SƠN TRA

Sơn tra là quả của cây Bắc sơn tra hoặc Nam sơn tra đã qua chế biến để sử dụng làm thuốc. Trong Đông y, Sơn tra có vị chua ngọt, tính hơi ôn, được quy vào kinh Tỳ, Vị , Can có tác dụng trị các bệnh lý ở đường tiêu hóa như ăn không tiêu, đầy bụng, ợ chua, tiêu chảy, các bệnh lý sau sinh ở phụ nữ, trị máu trong mỡ. Hãy tham khảo bài viết dưới đây để biết thêm những công dụng khác từ dược liệu này.

Công dụng và những bài thuốc chữa bệnh hay từ Sơn tra

1. Tên gọi – Chủng loại

Tên gọi khác: Hồng quả, Sơn lý hồng, Yên chi. Tên Hán Việt: Thử tra, Xích qua tử, Hầu tra, Mao tra, Sơn tra tử, Hầu lê,…

Tên khoa học: Crataegus cuneara Sied

Họ: Thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae)

Chủng loại:

  • Bắc sơn tra: Cây cao khoảng 6 mét, cành nhỏ có gai. Mép lá có răng cưa, mặt dưới dọc theo gân có lông mịn. Hoa hợp thành tán. Qủa hình cầu, khi chín có màu đỏ.
  • Nam sơn tra (da sơn tra): Cây cao khoảng 15 mét, thân cây có gai nhỏ. Lá dài và rộng, mặt dưới lúc đầu có lông sau nhẵn. Hoa hợp thành tán, cánh hoa màu trắng. Qủa hình cầu, khi chín có màu vàng và đỏ.

2. Đặc điểm sinh thái

Mô tả: Cây Sơn tra là loại cây có nhiều cành, trên cành non có nhiều lông tơ. Khi trưởng thành, cây sơn tra có chiều cao trung bình khoảng 6 – 10 mét. Lá có phiến lá hình trứng nhọn, mọc so le. Hoa có màu trắng, tự thành tán, tụ thành 4 – 5 hoa, hoa có 5 lá đài và 5 cánh hoa. Qủa thịt có hình cầu, đường kính 1,5 – 3 mét hoặc to hơn tùy theo mùa. Cây Sơn tra có thể trồng bằng hạt hoặc bằng thủ công chiết cành.

Phân bố: Cây Sơn tra thường mọc hoàng ở các vùng núi cao thuộc phía Bắc nước ta như: Hà Tuyên, Cao Lạng, Hoàng Liên Sơn,…

Cây được trồng nhiều ở các tỉnh vùng núi phía Bắc nước ta và thu hoạch quanh năm đối với những quả đã gần chín

3. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến, bảo quản

Bộ phận dùng: Phần quả cây Bắc sơn tra hoặc Nam sơn tra có tính chất dược phẩm nên được sử dụng để làm thuốc.

Thu hái: Thu hái quanh năm, thu hái đối với những quả vừa chín.

Chế biến: Rửa sạch những quả đã được thu hoạch về để loại bỏ lớp đất cát, bụi bẩn và vi khuẩn. Thái thành từng lát mỏng với độ dày từ 0,3 – 0,7 cm rồi đem phơi nắng hoặc xấy khô.

Bảo quản: Bảo quản ở nhiệt độ phòng, thoáng mát, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, tránh ẩm mọc, nên bao quản trong bao bì để được sử dụng lâu dài.

4. Thành phần hóa học

Trong phần quả của cây Sơn tra chứa hàm lượng Vitamin C rất cao cùng với một số hợp chất khác như: Acid citric, Acid cafiic, Acid crataegic, Acid oleanic, Cacbon hydrat, Protid, Calci, Ursolic, Cholin, Acetylcholin, Phytosterin, Phốt pho, Sắt,…

5. Tính vị

  • Vị ngọt, chua, không độc (Nhật dụng Bản Thảo)
  • Vị ngọt, chua, hơi độc (Bản Thảo Cương Mục)
  • Vị chua, lạnh không độc (Tân Tu Bản Thảo)

6. Quy kinh

Sơn tra được quy vào các kinh sau:

  • Kinh Tỳ (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải)
  • Kinh Tỳ, Can (Dược Phẩm Hóa Nghĩa)
  • Kinh túc Dương minh Vị, túc Thái âm Tỳ (Bản Thảo Kinh Sơ)

7. Tác dụng dược lý

Theo nghiên cứu dược lý hiện đại

Chưa được nghiên cứu.

Theo Y học cổ truyền

Trong Đông y, Sơn tra được ghi nhận có nhiều công dụng trong việc điều trị hệ tiêu hóa, ứ kinh, mỡ trong máu được ghi chép cụ thể trong các sách sau:

  • Trị lở sơn (Bản Thảo Kinh Tập Chú)
  • Hoạt huyết, tán ứ, tiêu thực, hóa tích (Trung Dược Học)
  • Hóa thực tích, hiện vị, hành khí kết, khoan cách, tiêu khí tích, huyết kết (Nhật Dụng Bản Thảo)
  • Trị chàm, lở loét (Tân Tu Bản Thảo)
  • Hạ khí, trị ợ chua, tiêu nhục tích trệ (Trấn Nam Bản Thảo)
  • Hành kết khí, tiêu ứ huyết, hóa ẩm thực (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Chủ trì (theo Trung Dược Học):

  • Chứng tích trệ
  • Tiêu chảy
  • Bụng đầy, trướng bụng
  • Ứ trệ ở hậu sản
  • Sản phụ dịch ra không hết, sán khí, dịch gây đau bụng

8. Cách dùng – Liều lượng

Cách dùng: Dùng Sơn trà một mình hoặc phối hợp cùng với các vị thuốc khác. Dùng với dạng thuốc bột, hoặc hoàn thành viên, có thể sắc cùng với nước để dùng.

Liều lượng: Dùng 3 – 10 gram (dạng sắc theo Đông y) hoặc dùng 20 – 30 giọt (dung dịch cao lỏng theo Tây y để chữa các bệnh về tim mạch, giảm đau, huyết áp cao).

9. Những bài thuốc từ Sơn tra

Sơn tra là quả chín của cây Bắc sơn tra hoặc Nam sơn tra đã được chế biến. Qủa có hình cầu, vỏ ngoài có màu nâu bóng, nhăn nheo, lớp thị có màu nâu cứng chắc. Hạt màu nâu đen, có hình trứng, vỏ hạt khá cứng, nhân hạt có màu trắng ngà. Sơn tra được bào chế để điều trị các bệnh về đường tiêu hóa như ăn không tiêu, đầy bụng, đau bụng, các bệnh lý ở phụ nữ sau sinh như ứ huyết, đau bụng,… Dưới đây mà một số bài thuốc Đông y từ Sơn tra, bạn đọc có thể tham khảo và áp dụng điều trị:

Sơn tra có công dụng chữa bệnh ở phụ nữ sau sinh và người các phải các chứng hệ tiêu hóa như ăn không tiêu, tiêu chảy, kiết lỵ, đầy bụng

Bài thuốc từ Sơn tra chữa ăn uống không tiêu: Dùng 10 gram Sơn tra, 6 gram Chỉ thực, 5 gram Trần bì cùng với 2 gram Hoàng liên. Đem một thang thuốc trên sắc cùng sáu chén nước, sắc còn 2 chén nước và chia làm ba phần nhỏ để uống mỗi ngày.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa ợ hơi, rối loạn tiêu hóa: Dùng Sơn tra sống và Sơn tra sao mỗi vị 20 gram, đem sắc cùng với nước để lấy nước dùng.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa tiêu chảy: Dùng 10 gram Sơn tra thán đem tán thành bột mịn rồi sử dụng cùng với nước sôi.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa tiêu chảy ở trẻ em: Dùng một lượng Sơn tra nấu thành siro. Mỗi lần sử dụng 5 – 10 ml, uống mỗi ngày 3 lần (buổi sáng, trưa và tối).

Bài thuốc chữa kiết lỵ mới phát: Dùng 30 gram Sơn tra sắc cùng với nước. Khi nước đặc tiếp tục sắc cùng với 30 gram đường mía và Tế trà. Sắc đến đạt được độ đặc nhất định rồi rót ra chén để uống, uống khi thuốc còn nóng.

Bài thuốc chữa kiết lỵ cấp tính, đại trường viêm cấp:

Dùng 60 gram Sơn tra (sao cháy sơ qua), thêm 30 ml rượu trộn đều và tiếp tục sao lại cho khô. Thêm 200 ml nước sắc khoảng 15 – 20 phút, lọc bỏ phần bã chỉ lấy phần nước, thêm 60 gram gừng tươi và tiếp tục sắc đến sôi thì tắt bếp. Uống khi thuốc còn nóng, mỗi ngày sử dụng một thang.

Dùng 120 gram Sơn tra (sao cháy) cùng với 30 gram Bạch biển đậu (hoa) sắc cùng với năm phần nước cô đặc còn hai phần nước để dùng. Dùng khi thuốc còn nóng, nếu thuốc nguội, nên hâm nóng lại trước khi dùng.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa thịt tích lại không tiêu: Dùng 120 gram Sơn tra sắc cùng với một ít nước, sắc đến khi đậm đặc để dùng. Sử dụng cả phần nước và phần cái đã sắc được.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa hóc xương cá: Dùng 15 gram Sơn tra sắc cùng với hai chén nước, sắc đặc. Lấy nước sắc được dùng một ít để ngậm lâu rồi nuốt trôi.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa ghẻ lở: Dùng một ít Sơn tra khô để nấu cùng với nước để tắm, dùng nước khi còn ấm hoặc nguội dần, tránh bị bỏng da.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa sán khí gây nên thoái vị, dịch hoàn sệ xuống: Dùng Sơn tra và Hồi hương (sao) mỗi vị 30 gram, đem tán thành bột mịn, thêm một ít mật để hoàn thành viên có kích thước bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần sử dụng 50 viên để uống cùng với nước sôi. Dùng thuốc khi bụng đói hoặc trước khi ăn.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa đau bụng, dịch không ra hết ở phụ nữ sau sinh: Dùng 90 gram Sơn tra sắc cùng với một ít nước, sắc đến khi đặc, thêm một ít đường để dễ uống. Sử dụng thuốc để uống lúc đói hoặc đau.

Bài thuốc từ Sơn tra đau bụng do ứ trệ sau sinh, kinh nguyệt bế do ứ huyết: Dùng 40 gram Sơn tra sắc cùng với nước, sắc đặc rồi lọc bỏ phần bã, cho thêm 25 gram đường vào phần nước để uống.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa huyết áp thấp, dùng nhiều thuốc chữa tỳ hư mà không khỏi: Dùng Sơn tra cùng với Ty thế đoàn với liều lượng bằng nhau, đem hai vị thuốc trên phơi khô rồi tán thành bột mịn. Dùng thuốc cùng với nước sắc của lá Ngải cứu.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay ở người cao tuổi: Dùng Sơn tra và Lộc nhung (nướng) với liều lượng bằng nhau, đem hai vị thuốc trên tán thành bột mịn, thêm một ít mật rồi hoàn thành viên có kích thước bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần sử dụng 50 viên cùng với rượu ấm, uống mỗi ngày 2 lần trước và sau bữa ăn đều được.

Bài thuốc từ Sơn tra chữa lipid máu cao: Dùng Sơn tra và Mạch nha (cô đặc) với liều lượng bằng nhau. Mỗi lần sử dụng 30 gram để uống, mỗi ngày sử dụng 2 lần, thời gian sử dụng là 14 ngày.

10. Kiêng kỵ

Một số đối tượng dưới đây không được sử dụng các bài thuốc từ Sơn tra:

  • Dị ứng hoặc mẫn cảm với một số thành phần có trong Sơn trà: Không được sử dụng
  • Tỳ vị hư, yếu, không có thực tích: Không được sử dụng
  • Đa toan dịch vị, viêm loét dạ dày: Không được sử dụng

Bài viết đã cung cấp cho bạn đọc những thông tin cần thiết về Sơn tra và những công dụng của dược liệu này. Tuy nhiên, thôn tin bài viết chỉ mang giá trị tham khảo, công dụng chữa bệnh trong dược lý hiện đại chưa đưa ra kết luận chính xác về công dụng của Sơn tra. Vì vậy, người bệnh không được tự ý sử dụng các bài thuốc từ dược liệu này khi chưa có chỉ định từ bác sĩ hoặc lương y.